background img

RỐI LOẠN BÀNG QUANG Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Khi đến tuổi già, chức năng của các cơ quan suy giảm nhiều, trong đó điển hình là rối loạn bài tiết. Ở đây, chúng ta sẽ đề cập đến rối loạn bàng quang (còn gọi là rối loạn tiểu tiện) ở người già. Thực tế rối loạn bàng quang thường gặp các dạng khác nhau như bàng quang hoạt động quá mức, tiểu không kiểm soát và tình trạng bàng quang thần kinh. Nhưng ở người già thường gặp nhất là tiểu không kiểm soát.

1. “Tiểu không kiểm soát” là gì?

Tiểu không kiểm soát (TKKS) hay còn gọi là tiểu tiện không tự chủ được xác định sự dò rỉ nước tiểu không tự chủ gây khó chịu.Tiểu không kiểm soát là một dấu hiệu hay triệu chứng của rối loạn chức năng đường tiểu chứ không phải là một bệnh.

TKKS thường gặp và gây khó chịu ở người cao tuổi.Tỷ lệ mắc tăng theo tuổi và tăng theo mức độ suy yếu cơ thể, và nữ nhiều hơn nam. Ở phương Tây, tại cộng đồng tỷ lệ mắc chứng tiểu không kiểm soát vào khoảng 35% phụ nữ lớn tuổi và 22% nam giới lớn tuổi, tỷ lệ bệnh tăng cao ở các nhà dưỡng lão có thể lên đến 60%. Ở Việt Nam chưa có số liệu chính thức về chứng bệnh này. Chứng tiểu không kiểm soát thay đổi theo mức độ nghiêm trọng từ hiện tượng xì nước tiểu khi có gia tăng áp lực ổ bụng khi gắng sức khi ho… tới mức độ són tiểu liên tục, đến nặng hơn là tiểu không kiểm soát có kèm theo đại tiện không tự chủ.

Tiểu không kiểm soát ảnh hưởng đến sức khỏe, tạo sự tự ty mặc cảm hạn chế giao tiếp xã hội, nặng hơn gây rối loạn tâm thần, hạnh phúc của bệnh nhân. Chứng tiểu không kiểm soát có nhiều nguyên nhân tại bàng quang, tại cơ thắt hoặc từ sự bất đồng vận bàng quang cơ thắt hoặc từ căn nguyên thần kinh. Hậu quả thực thể của chứng tiểu không kiểm soát là nguy cơ nhiễm khuẩn niệu ngược dòng, nếu không ngăn chặn dễ dàng gây nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn mủ thận gây suy thận và tăng huyết áp.

2. Phân loại Tiểu không kiểm soát?

Có nhiều cách phân loại khác nhau: TKKS theo quãng thời gian biểu hiện triệu chứng, theo truyền thống dựa trên các triệu chứng lâm sàng, theo sinh lý bệnh.

Phân loại theo triệu chứng lâm sàng:

  • TKKS do gắng sức: là sự thoát nước tiểu không tự chủ khi gắng sức mà không do sự co bóp bàng quang. Thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, xảy ra khi bệnh nhân có hoạt động gắng sức như ho, hắt hơi, rặn, cười, khiêng vật nặng…lượng nước tiểu thường thoát ra ít. Mức độ được coi là bệnh lý được định nghĩa là thường xảy ra nhiều hơn 2 lần mỗi tháng. Hay gặp ở phụ nữ béo phì, chửa đẻ nhiều lần, mãn kinh…Ở nam giới thường gặp sau phẫu thuật tuyến tiền liệt, nhất là cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc.
  • TKKS gấp (đái vãi): là thoát nước tiểu kết hợp với tình trạng tiểu gấp,bệnh nhân chưa kịp ra nhà vệ sinh thì đã vãi nước tiểu. Thường do suy yếu chức năng lưu giữ nước tiểu của bàng quang hay còn gọi bất ổn định cơ detrusor. Hay gặp khi thời tiết lạnh, rối loạn tinh thần, rửa ráy bằng nước. Ở nam giới TKKS gấp có thể là biểu hiện tắc nghẽn dòng tiểu, bất ổn định cơ destrusor vô căn, bệnh lý thần kinh, xạ trị vùng tiểu khung
  • TKKS tràn đầy (đái rỉ): nguyên nhân do ứ đọng nước tiểu mạn tính, bệnh nhân són tiểu từng đợt và không bao giờ đi tiểu bình thường. Hay gặp ở bệnh nhân suy yếu co bóp bàng quang, hoặc tắc nghẽn đường ra của bàng quang nhất là nam giới bị phì đại tuyến tiền liệt chèn ép đường ra cổ bàng quang, ở nữ có thể do sa tử cung, hoặc do táo bón.
  • TKKS hoàn toàn (đái rỉ liên tục): đái rỉ thường xuyên cả ngày lẫn đêm. Nguyên nhân có thể thấy trong rối loạn chức năng bàng quang do bệnh lý thần kinh: tổn thương tủy sống, đột quỵ, tổn thương thần kinh ngoại biên, sau cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc ở nam giới.
  • TKKS chức năng: các cơ quan hệ tiết niệu bình thường nhưng bệnh nhân do rối loạn tâm thần hay sa sút trí tuệ nên không quan tâm đến các quy tắc xã hội về thời gian, địa điểm đi tiểu.

Phân loại theo cơ chế bệnh sinh:

Bất thường cơ destrusor:

  • Mất độ giãn nở bàng quang: bàng quang không thể lưu giữ áp lực thấp để chứa đựng nước tiểu trong pha đổ đầy.TKKS xuất hiên ngay cả khi bàng quang không co bóp. Thường gặp trong bàng quang thần kinh, loạn sản tủy, sau phẫu thuật tại bàng quang, xạ trị khung chậu
  • Hoạt động quá mức: co thắt destrusor không tự chủ trong pha đổ đầy, nguyên nhân có thể là vô căn hoặc tai biến mạch não, hoặc ở nam giới có phì đại tuyến tiền liệt tắc nghẽn dòng tiểu, hoặc ung thư bàng quang, hoặc viêm bàng quang.

Bất thường cơ thắt niệu đạo:

  • Sự nâng đỡ của các cơ-cân vùng đáy chậu suy yếu: hay gặp ở nữ giới do tuổi tác hoặc sinh đẻ nhiều, hoặc đẻ con to thời gian chuyển dạ kéo dài. Thường  phối hợp với sa tử cung, sa bàng quang hoặc sa trực tràng.
  • Giảm estrogen: làm teo niêm mạc niệu đạo dẫn đến mất sự áp niêm mạc niệu đạo.
  • Sẹo niêm mạc niệu đạo: sau phẫu thuật can thiệp nhiều lần, chấn thương làm niệu đạo mất tính đàn hồi dẫn đến mất sự áp niêm mạc niệu đạo.
  • Sau phẫu cắt bỏ tuyến tiền liệt: phẫu thuật nội soi qua đường niệu đạo, phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận gốc gây suy cơ thắt đơn thuần hoặc phối hợp với bất ổn định destrusor và tổn thương thần kinh.

Phân loại theo tính chất của TKKS:

TKKS tạm thời: Nguyên nhân có thể do bệnh lý khác hiện tại bệnh nhân đang mắc phải, hoặc do tác dụng phụ của thuốc bệnh nhân đang dùng. Tình trạng TKKS có thể hết khi điều trị các bệnh đang mắc phải hoặc dừng các thuốc gây nên.

  • Mê sảng.
  • Nhiễm khuẩn đường tiểu: cần xét nghiệm phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu để chẩn đoán.
  • Béo phì.
  • Táo bón: gây cản trở đường ra niệu đạo và kích thích co thắt bàng quang.
  • Tai biến mạch não, chấn thương tủy, tăng đường huyết, tăng can xi huyết, giảm khả năng vận động, tạo nước tiểu quá mức (uống nhiều bia,nước, đái tháo nhạt, đa niệu đêm,đái tháo đường kiểm soát kém, suy tim mất bù…)
  • Thuốc: nhóm lợi tiểu tác dụng mạnh (lợi tiểu quai), kháng cholinergic, một số thuốc hướng tâm thần, chống trầm cảm, an thần-thuốc ngủ, thuốc giảm đau nhóm Opi, thuốc chủ vận alpha-drenergic (gây bí đái), thuốc chẹn alpa-adrenergic (giãn cơ trơn niệu đạo), ức chế men chuyển angiotensin gây ho làm mất kiểm soát tiểu tiện, thuốc chẹn kênh can xi có thể gây bí tiểu, rượu, caffeine…

TKKS dai dẳng: Sau khi loại trừ các nguyên nhân gây TKKS tạm thời thì cần nghĩ đến nguyên nhân tại phần thấp đường tiết niệu và được chia ra các loại:

  • TKKS gắng sức
  • TKKS gấp
  • TKKS hỗn hợp
  • TKKS tràn đầy

3. Các phương pháp điều trị tiểu không kiểm soát ở người cao tuổi?

    • Ở người cao tuổi nhiều bệnh lý nền có thể gây ra tình trạng TKKS hoặc làm bệnh nặng như suy tim, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, rối loạn thần kinh, đột quỵ, sa sút tâm thần, đa xơ cứng, rối loạn nhận thức, rối loạn giấc ngủ (hội chứng ngừng thở khi ngủ). Điều trị các bệnh lý nền này có thể điều trị khỏi hoặc cải thiện tình trạng TKKS.

    • Điều chỉnh việc sử dụng các thuốc có thể gây ra TKKS: các thuốc chẹn alpha, các thuốc tác động thần kinh trung ương, các thuốc lợi tiểu mạnh,…
    • Sử dụng các miếng thấm (băng tã), chụp tiểu bao quy đầu ở nam giới, nón chụp âm hộ ở nữ giới để hứng nước tiểu, hoặc đặt xông tiểu ….Không nên thực hiện ở bệnh nhân bị nhiễm khuẩn tiết niệu, kích thích bàng quang, sỏi bàng quang…
    • Không dùng các đồ uống có caffein: vì cà phê có thể gây kích thích hệ thần kinh trung ương, lợi tiểu, giãn cơ thắt niệu đạo dễ gây tiểu gấp và tiểu nhiểu lần. Bỏ nếu bệnh nhân đang hút thuốc lá.
    • Tập thể dục và các bài tập Kegel (tập co thắt lặp đi lặp lại các cơ vùng tầng sinh môn): tập thể dục giúp giảm cân nặng, giảm tình trạng thừa cân béo phì, bài tập Kegel làm săn chắc cơ vùng tầng sinh môn giúp cải thiện chứng TKKS.
    • Kiểm soát lượng nước đưa vào (nước và các loại dịch truyền): thường khuyên bệnh nhân dùng khoảng 1500ml/ngày, hạn chế nước buổi tối.

    Các can thiệp không xâm lấn:

    • Kích thích điện học bằng các điện cực bề mặt tại tầng sinh môn, da vùng xương mu, thành âm đạo, có thể cải thiện chứng TKKS.
    • Sử dụng các xung từ tại vùng tầng sinh môn và xương cùng: có thể cải thiện chứng TKKS.
    • Kích thích thần kinh chày sau bằng kim xung điện cắm dưới da tại vị trí trên mắt cá chân: giúp kích thích trung tâm phản xạ cùng của tủy sống, có thể cải thiện chứng TKKS ở một số bệnh nhân.
    • Kích thích bằng xung từ trường tại vùng tầng sinh môn và xương cùng: có thể có hiệu quả ở trên bệnh nhân TKKS gắng sức và TKKS gấp.

    Phẫu thuật: Được chỉ định khi các bước điều trị bảo tồn, dùng thuốc không hiệu quả.

    Nguồn: Ban biên tập NAVITA

    Tham khảo
    1. Nguyễn Văn Ân, Đào Quang Oánh, Niệu học lâm sàng, NXBYH, 2002,trang143-159.

    2. Lương Chí Thành, Cẩm nang chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng, NXBYH, 2004, trang 209-216.

    3. M.G. Lucas, et al, Guidelines on Urinary Incontinence, European Association of Urology, 2013, trang 1-118.

    Tags Related
    You may also like
    Comments

    Comments are closed.