background img

UNG THƯ VÚ CÓ XU HƯỚNG TRẺ HÓA VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

Ung thư vú là một loại bệnh xuất hiện khi các tế bào ác tính bị phát hiện trong các mô của vú – đó là các tế bào bất thường phát triển từ tế bào ống hay tế bào nang của vú. Điều nguy hiểm của bệnh này là các tế bào sẽ di căn sang các cơ quan khác của cơ thể, bởi vậy, ung thư vú không chỉ là nỗi đau của người phụ nữ khi buộc phải cắt bỏ một phần mà còn có thể lấy đi sự sống của người bệnh nếu kiểm soát bệnh không tốt.

1. Ung thư vú đang có xu hướng trẻ hóa

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO thì nguy cơ gây tử vong cao thứ hai ở nữ giới chính là bệnh ung thứ vú, đứng sau ung thư phổi. Điều đáng lo ngại, bệnh này đang có xu thể trẻ hoá và ngày càng tăng, tính riêng tại Mỹ năm 2012 có đến hơn 230,000 ca phát hiện bệnh ung thư vú. Chính vì lý do trên, các vấn đề về tầm soát ung thư vú đang được truyền thông mạnh mẽ không chỉ ở trên thế giới mà ở Việt Nam, chương trình này được đưa xuống các cơ sở từ trung tâm y tế, cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt tại các cơ sở sản khoa. Theo phân loại của WHO, thì ung thư vú được chia thành bốn giai đoạn và tỉ lệ tử vong sẽ tăng dần theo mỗi giai đoạn. Ở nước ta thì 51% người bệnh được phát hiện đang ở giai đoạn 1 và 2.

Đây là các yếu tố dẫn đến nguy cơ ung thư vú:

  • Do yếu tố gen và độ tuổi, trong đó phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh này cao gấp 100 lần so với nam giới và thường gặp ở độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi.
  • Tiền sử từng bị ung thư vú một bên hoặc gia đình có người mắc bệnh này hay thậm chí là tiền sử ung thư vú ở thế hệ 1 (như mẹ, chị)
  • Những bệnh nhân có ung thư buồng trứng hoặc ung thư nội mạc tử cung cũng có nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư vú này. Trong giai đoạn khi phụ nữ sắp mãn kinh (sau 55 tuổi) hoặc mắc tiểu đường sau mãn kinh cũng có nguy cơ cao hơn.
  • Phụ nữ sinh con lần đầu sau 35 tuổi hoặc độc thân cũng có khả năng mắc bệnh cao hơn so với phụ nữ khác.
  • Môi trường sống không lành mạnh như hút thuốc, chế độ ăn uống không hợp lý thì cũng dẫn đến nguy cơ cao.

Để có thể phòng bệnh ung thư vú, việc rất quan trọng cho mọi người là nhận biết sớm những dấu hiệu cảnh báo sau:

  • Thấy xuất hiện khối u không đau ở ngực hoặc thường xuyên thấy bị ngứa, rát quanh núm vú.
  • Núm vú rỉ máu hoặc tiết dịch bất thường. Nếu quan sát kĩ và thường xuyên sẽ thấy làn da trên vú bị phình và dày lên, đây cũng là những dấu hiệu để mọi người lưu ý. Ngoài ra, làn da trên vú bị lún đồng tiền hoặc có nếp gấp, hay có xu hướng thụt vào hoặc co lại.
  • Đối với những phụ nữ khoẻ mạnh từ 35 tuổi trở lên, thì cần kiểm tra định kì. Đối với các trường hợp có nguy cơ cao thì tần suất nên nhiều hơn, 3-6 tháng/lần theo chỉ định của bác sĩ.

Với những biểu hiện trên thì bạn hãy thường xuyên tự kiểm tra hoặc đến các phòng khám chuyên khoa để được thăm khám và tư vấn của các bác sĩ. Chính do đặc điểm của ung thư vú là loại ung thư khi khởi phát và ngay cả khi đang ở giai đoạn đầu đều không có triệu chứng lâm sàng, cũng không báo động cho người bệnh “tín hiệu” nào rõ ràng cả, bởi thế người bệnh có xu hướng chủ quan, không để ý.

Bạn có biết đối với phụ nữ thì vú là cơ quan dễ bị ung thư nhất, và hiện nay chưa có phương pháp phòng ngừa nào có hiểu quả, nhưng chúng ta có thể làm giảm nguy cơ nếu:

  • Cải thiện các yếu tố có nguy cơ cao và nhắc nhở những người có khả năng đó nên tự khám và kiểm tra thường xuyên vú và phụ khoa. Khi đến các cơ sở chuyên khoa, người bệnh sẽ được khám vú, chụp nhũ ảnh định kì và làm các xét nghiệm bổ sung, công việc này cần được làm đều đặn hàng tháng bằng cách tự khám nhũ hoa của mình.
  • Tránh gây căng thẳng và giữ chế độ dinh dưỡng đúng và cân bằng, bổ sung thêm khẩu phần nhiều rau, củ quả chứa nhiều β caroten, tránh béo phì và hạn chế các chất kích thích.

Với những định nghĩa, nguyên nhân và cách phòng ngừa như trên, đối với những bệnh nhân đã bị ung thư cần đưa ra phác đồ và hướng điều trị ung thư vú một cách hợp lý để có thể mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh.

2. Các hướng điều trị ung thư vú

Ung thư vú là một căn bệnh rất phổ biến, ở Việt Nam bệnh này hiện đang đứng hàng đầu về tỉ lệ mắc và đứng thứ 3 về tỉ lệ tử vong ở nữ giới. Điều trị ung thư vú là điều trị đa mô thức kết hợp với nhiều phương pháp, mỗi giai đoạn lại có những phương pháp điều trị khác nhau nhằm đem lại hiệu quả điều trị cao nhất cho người bệnh.

Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thứ vú đầu tiên và cũng là hướng điều trị chính, nhất là ở những trường hợp chưa có di căn, phương pháp này bao gồm:

  • Phương pháp phẫu thuật cơ bản là cắt tuyến vú triệt căn biến đổi, nó sẽ cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và nạo vét hạch nách thành một khối, có bảo tồn cơ ngực lớn, cơ ngực bé và thần kinh.
  • Phẫu thuật tạo hình sau phẫu thuật ung thư vú: sau khi bị cắt bỏ tuyến vú thì người bệnh được thực hiện tạo hình vú bằng đặt túi độn ngực hoặc bằng vạt da cơ tự thân.
  • Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú sẽ áp dụng với bệnh nhân đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về chỉ định bảo tồn. Phẫu thuật bao gồm cắt rộng phần tuyến vú có u và nạo vét hạch nách. Sau phẫu thuật bảo tồn người bệnh phải điều trị xạ trị bổ trợ. Ngày nay, phẫu thuật bảo tồn được áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
  • Phẫu thuật giảm nhẹ với những khối u vú vỡ loét là thực hiện phẫu thuật sạch sẽ khối u để đề phòng nhiễm trùng và đảm bảo sức khoẻ cho người bệnh.

Điều trị hoá trị

Hiện tại, có nhiều phác đồ hoá trị liệu được áp dụng, nhưng tổng quan sẽ phân thành ba loại chính bao gồm các phác đồ không có anthracycline, các phác đồ có anthracycline và các phác đồ có taxanes. Ung thư vú là bệnh toàn thân do đó chỉ định điều trị hoá chất bao gồm: điều trị hoá chất bổ trợ sau mổ, điều trị hoá chất tân bổ trợ (trước phẫu thuật), điều trị hoá chất triệu chứng với những ca ung thư vú giai đoạn muộn.

Điều trị đích bằng các thuốc kháng thể đơn dòng

Theo thông tin đưa ra từ các bác sĩ chuyên khoa tại bệnh viện quốc tế Vinmec, một số kháng thể đơn dòng đã được đưa vào ứng dụng điều trị tại Việt Nam cũng như các nước phát triển như Trastuzumab, Pertuzumab, Lapatinib. Kết quả nhiều nhiều nghiên cứu cho thấy sự kết hợp kháng thể đơn dòng với hoá chất mang lại hiệu quả cao hơn so với nhóm chỉ được dùng hoá chất đơn thuần trong điều trị ung thư vú có thụ thể Her-2 nếu dương tính.

Điều trị xạ trị

Phương pháp điều trị xạ trị được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư vú bao gồm: xa trị bổ trợ phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn, xạ trị bổ trợ sau mổ bảo tồn ung thư vú hay xạ trị triệu chứng: trong những trường hợp ung thư vú di căn xương, di căn não, xa trị với mục đích giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh. Phương pháp này sẽ dùng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư, xạ trị có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp các phương pháp điều trị.

Điều trị nội tiết

Ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính chiếm tỉ lệ khoảng 60%, do đó điều trị nội tiết trong ung thư vú cũng là phương pháp điều trị quan trọng, hiệu quả cao. Nó bao gồm việc cắt buồng trứng đối với phụ nữ trẻ còn kinh nguyệt hoặc uống thuốc kháng estrogen như Tamoxifen (nội tiết bậc 1) trong 5 đến 10 năm. Thuốc ứng chế men aromatase Anastrozole, Letrozole (nội tiết bậc 2, chỉ dùng với phụ nữ mãn kinh), ngoài ra còn có các thuốc nội tiết thế hệ sau đó có hiệu quả cao trong ung thư vú di căn thật bại với nội tiết bậc 1, 2 như Fulvestrant, Palbociclib…

Điều trị bằng phương pháp nội tiết tố là liệu pháp điều trị toàn thân để làm chậm hoặc ngưng quá trình tăng trưởng của những khối u dương tính với cụ thể hormone bằng cách ngăn chặn những tế bào ung thư nhận hormone để phát triển. Phương pháp này có thể kết hợp với điều trị miễn dịch trong điều trị ung thư, một số nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của thuốc kháng thụ thể miễn dịch PD-L1 kết hợp với hoá chất trên bệnh nhân ung thư vú di căn có bộ ba thụ thể âm tính.

Nguồn: Ban biên tập NAVITA

Tham khảo
www.medicinenet.com www.suckhoedoisong.vn Bệnh học ung thư phụ khoa_ Nhà xuất bản y học
Tags Related
You may also like
Comments

Comments are closed.