background img

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TUỴ

Ung thư tuyến tụy là loại ung thư không phổ biến, tuy nhiên nó là 1 trong 10 bệnh ung thư chết người hàng đầu trên toàn thế giới. Đa số các trường hợp bệnh nhân sau khi phát hiện bị ung thư tuyến tụy đều khó qua khỏi do khả năng điều trị thấp.

Tuy nhiên, một số chẩn đoán cận lâm sàng và phương pháp điều trị ung thư tuyến tụy đã có hiện nay giúp người bệnh có thể chẩn đoán được kết quả sớm và chính xác nhất.

  1. Chẩn đoán cận lâm sàng

CA 19-9: Là chẩn đoán đánh dấu ung thư, có độ nhạy 80% (S = 80%) (Ví dụ 100 bệnh nhân ung thư tụy thì 80% CA 19-9 chẩn đoán ra), độ đặc hiệu 90% (Sp = 90%). Tuy nhiên, nồng độ trong huyết tương tỷ lệ thuận với khối lượng khối u, khi đã đủ để phát hiện qua chứng nhận lâm sàng thường sẽ không mổ được nữa. Vì vậy, CA 19-9 không có giá trị trong chẩn đoán ung thư giai đoạn sớm, nên không được dùng để tầm soát ung thư tụy.

Siêu âm: Mặc dù siêu âm là hình thức thuận tiện, kinh tế và không gây tổn thương, tuy nhiên siêu âm rất khó chẩn đoán khi khối u nhỏ hơn 2cm.

HCTC: Là phương tiện CT, chụp cắt lớp điện toán mới, độ nét cao, hình xoắn ốc, đa lát cắt và chụp dựng hình lại đường mật.

MRCP: Chụp cộng hưởng từ đường mật, dùng dịch mật như chất cảm quan đầu tiên, chỗ nào có dịch mật chỗ đó sẽ hiện lên khối u.

PTC: Chụp hình đường mật xuyên gan qua da, xét nghiệm này rất hữu ích trong chẩn đoán, đặc biệt đối với chứng vàng da tắc nghẽn. Những thiếu sót của nó là rất khó để làm chủ kỹ thuật, chẳng hạn như nếu thực hiện kỹ thuật không đúng cách, không những không thể có được hình ảnh rõ ràng, mà còn dễ bị một số biến chứng, chẳng hạn như viêm phúc mạc đường mật.

ERCP (Nội soi mật tụy ngược dòng): Chụp hình đường mật qua ngã nội soi mật tụy ngược dòng. Phương pháp này có giá trị nhất định trong chẩn đoán ung thư tuyến tụy. Các ống tụy chính có thể được tìm thấy bị gián đoạn, hẹp, giãn hoặc đi lệch. Chẩn đoán ERCP có tỷ lệ thành công là 60% – 90%.

EUS: Siêu âm qua nội soi.

  1. Các Phương pháp điều trị

Phẫu thuật: Hầu hết bệnh nhân ung thư tuyến tụy khi phát hiện bệnh đều đã ở giai đoạn cuối, không thể phẫu thuật chữa lành, nhưng có thể giúp người bệnh đỡ ngứa, vàng da, cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống.

– Cắt bỏ khối – tá đầu tụy

– Cắt thân –  đuôi tụy (cắt bỏ tụy phần xa/cắt bỏ tụy phía bên trái)

– Cắt toàn bộ tụy

– Nối tắt đường mật: Nối đường mật với ruột non, thường là ở túi mật (nối túi mật với ống tràng)

– Nối tắt dạ dày: Là nối vị tràng

– Đặt nòng (tá tràng, đường mật, ống tụy): Can thiệp bằng nội soi.

Xạ trị: (Diệt cả tế bào bệnh, diệt cả tế bào lành) Nếu không thể phẫu thuật thì xạ trị là phương án thứ hai có thể dùng cho bệnh nhân ung thư tuyến tụy để giảm nhẹ triệu chứng đau đớn, vàng da, ngăn ngừa tái phát nếu tiến hành xạ trị sau phẫu thuật.

Hóa trị: Đây là phương pháp điều trị hỗ trợ cho xạ trị hoặc áp dụng nếu xạ trị và phẫu thuật không còn thích hợp bởi tình trạng bệnh nhân đã diễn biến nghiêm trọng hơn. Khi đó, hóa trị đóng vai trò giúp người bệnh ung thư tuyến tụy kéo dài sự sống, giảm đau đớn, khó chịu khi bước vào giai đoạn cuối. Tuy nhiên, hóa trị sẽ diệt cả tế bào bệnh lẫn tế bào lành, biểu hiện ở chỗ người bệnh bị sụt cân, rụng tóc, chán ăn.

Liệu pháp đích: Nếu như hóa trị và xạ trị diệt cả tế bào bệnh lẫn tế bào lành thì liệu pháp đích dùng thuốc tác động trực tiếp đến tế bào ung thư nhưng không tác động đến tế bào bình thường (tế bào lành)

Liệu pháp giảm đau: Thường sẽ có nguyên một khoa điều trị giảm đau với nhiều phương pháp điều trị như: thuốc uống, thuốc dán, thuốc tiêm, can thiệp mổ, can thiệp không mổ…

Nguồn: Ban biên tập NAVITA

Tags Related
You may also like
Comments

Comments are closed.